Chiều San Francisco

Chia sẻ qua Facebook Chia sẻ qua Twitter
 Chiều San Francisco Bây giờ đi đâu trên khắp nước Mỹ cũng có thể gặp được người Việt mình, có chỗ nhiều chỗ ít nhưng có lẽ chỗ nào cũng có. Họ âm thầm, chịu khó, nhẫn nhục làm bất kỳ những công việc lương thiện nào đó để kiếm sống mà vươn lên.

Tháng Sáu, gió từ Vịnh thổi vào hiu hiu lạnh. Tôi lang thang trên Bến Ngư Phủ (Fishman's Wharf). Càng về chiều người càng đông. Khách du lịch từ bốn phương cứ muốn đổ dồn về San Francisco, một thành phố quá đẹp mà nếu đã biết thì người ta không thể không đến thăm, dù một lần trong đời, nếu có điều kiện.

Tôi ở Mỹ gần mười năm rồi, nơi tôi sống cũng không xa nó lắm, nhưng vì chạy đua với cơm áo gạo tiền, nên dù rất muốn, số lần đến để thăm thành phố này cũng đếm không quá mấy ngón trên một bàn tay. Lần nào cũng vội vàng, “nhân tiện”, “tranh thủ” không kịp cả “cưỡi ngựa” để “xem hoa”. Lần này, cố dành một ngày lang thang để mà ngắm San Fran từ từ, nhưng một ngày rồi thấy cũng chẳng thấm tháp vào đâu.

Lướt qua một chút mấy con phố Tàu, phố Nhật, ngồi đâu đó nhấm nháp ly cà phê bên quán lề đường trên phố Ý, chưa kịp cảm thụ một phần nhỏ nhịp sống của thành phố hoa lệ này thì ngày đã sắp tàn. Vội trở về đường Embarcadero, chen chân với du khách mà ngắm San Fran chiều về trên bến Vịnh. Cung đường ven biển này có hơn bốn chục cái cầu tàu, nhưng Pier 39 (cầu tàu thứ 39) là đẹp và nhộn nhịp nhất: Bến du thuyền tham quan Vịnh, nhà hàng, quán nước, hàng lưu niệm, hàng trái cây, nước juice, thức ăn nhanh...

“Nam thanh nữ tú”, khách thập phương lũ lượt. Người ta đi, người ta ăn uống, ngồi nghỉ nhìn ngắm thiên hạ, chụp hình với nhau và chụp hình với những người giả (model bằng người thật nhưng sơn lên khắp mặt mũi chân tay nhũ vàng, nhũ bạc để khách thuê làm mẫu chụp hình chung). Ngồi trên chiếc ghế gỗ bên vệ đường nhìn cảnh vật, trời mây nước, người qua kẻ lại, nhìn góc phố, hàng hiên, nhìn những con bồ câu bay sà xuống hè phố giành với lũ chim những mẫu bánh, mà du khách cố tình vương vãi cho chúng.

Thùng rác bên đường, một bà cụ già dáng đi lọm khọm với bao nylon dùng đựng rác to màu đen. Chiếc nón lá Việt Nam hơi nhạt màu, cây gậy trên tay. Bà cúi sát nhìn vào trong thùng rác và thò chiếc gậy dài vào. Bà chăm chú với công việc của mình mà như quên hết phố xá nhộn nhiệp xung quanh. Chiếc áo hoa lấm tấm hồng, quần kaki đen, đôi giày bata xanh nhợt, chìm lẫn với những áo quần sắc màu bright color dập dìu trên phố, nó như mơ hồ với những trang phục fashion của vạn người hớn hở trên bến cảng.

- Sao giờ này chưa về hả bà?

Bà giật mình, đột ngột quay lại vì câu hỏi bất ngờ của tôi. Sau một thoáng ngạc nhiên, bà nhìn tôi, nỗi vui mừng hiện lên mặt:

- Giờ nầy mới có nhiều lon con à!

- Ngày nào bà cũng đi lượm hết hả, thế có nhiều không?

- Cũng tùy bữa con à, có ngày lượm được đến 4-5 bao như vầy đó. Bà vui vẻ hẳn lên.

- Lượm lon vậy có cực lắm không bà?

- Cũng vui con à, có gì đâu mà cực. Ở nhà bít bùng bó chân bó cẳng buồn lắm, ra đây thoáng mát, đông vui lại còn có được vài đồng mua bánh cho cháu nữa. Muốn đi lúc nào thì đi, khỏe thì đi mệt ở nhà nghỉ, làm nghề tự do mà. Bà nhìn tôi cười hóm hỉnh.

- Bao nầy lớn quá bà khiêng nổi không?

- Không nặng đâu, chừng vừa đủ sức là về. Có khi lượm đầy rồi ngồi đây chờ mấy đứa con ra chở về. Bà vừa nói vừa móc trong túi ra cái điện thoại di động giơ giơ cho tôi thấy. Mấy đứa nó làm cũng gần gần quanh đây.

Nếu vô tình thấy một người già cặm cụi đi lượm lon, nhiều khi tôi động lòng trắc ẩn thấy mà thương, nghĩ sao họ phải làm việc vất vả lúc tuổi già. Đôi khi lại trách móc con cháu họ ở đâu, sao tệ bạc, để cha mẹ già phải lao đao vất vả kiếm sống.

Lúc đầu khi nhìn thấy cụ già này tôi cũng nghĩ bà tội nghiệp quá, lân la qua hỏi han tôi mới thấy bà rất lạc quan, yêu đời, vui vẻ. Tôi có cảm giác như bà làm công việc này không phải bon chen, khổ cực vì miếng cơm manh áo mà vì niềm vui, sự ham thích, chẳng có một chút gì là mặc cảm chịu đựng, xấu hổ, thấp hèn trên khuôn mặt hớn hở của bà.

Ngồi xuống băng ghế dài bên đường, bà buộc miệng bao lại. Tôi chào bà. Một chiếc xe chạy sát bên lề, nghe tiếng gọi “Mẹ”. Tôi ngoái đầu nhìn, một người đàn ông trong xe: “Mẹ ngồi yên ở đây chờ con nhé!”.

Tôi nhìn đồng hồ gần 9 giờ rồi, mặt trời đã lặn nhưng trời vẫn còn sáng. Du khách không vơi đi mà như còn đông hơn. Hàng quán sáng trưng ánh đèn. Dựa vào lan can cầu tàu nhìn bao quát qua Vista Point phía bờ bắc, đón gió ngoài Vịnh San Fran thổi vào mát lạnh. Cầu Golden Gate đỏ màu rực rỡ trong dải lụa sương mờ bềnh bồng, đẹp huyền ảo giữa bàng bạc núi non, biển cả và sao trời lưa thưa lấp lánh. Tôi quay nhìn lại, băng ghế bây giờ đã thay bằng môt đôi vợ chồng già Mỹ trắng, cả hai tóc bạc phơ, họ đang mở túi lấy đồ ăn đưa cho nhau. Bà cụ khi nãy chắc cậu con đã đón về lâu rồi.

Thành phố nhập nhoạng trong bóng tối. Ánh đèn lấp lánh từ các khung cửa sổ trên những tòa cao ốc của phố tài chính, cầu Bay sáng bạc, xa xa những căn nhà trên núi vùng Oakland sáng lung linh làm cho San Fran thêm huyền ảo. Trời tháng 6 nhưng gió mang hơi nước từ Vịnh thổi vào nghe lành lạnh. Một chiếc xe lôi, như những chiếc xe lôi ở bến bắc Cần Thơ ngày nào đổ bên lề ngay sau lưng tôi. Bốn cô gái Mỹ đen tranh nhau bước xuống, rôm rả nói cười, líu lo như chim. Còn anh “phu xe” miệng cười méo xệch và thở phì phò như ngựa sau một chặng đường dài phi nước đại. Trời mát mà lưng chàng ta ướt đẫm mồ hôi. Một cậu “đầu đen”! Cũng đội chiếc nón lá nhưng hơi nhỏ hơn, mỗi bên vẽ thêm cảnh cầu Tràng Tiền và chùa Thiên Mụ! Chắc là “dân nhà mình” rồi, tôi hỏi đại bằng tiếng mẹ đẻ, phải thì tốt không thì thôi, Hợp chủng quốc Huê Kỳ mà: “Mệt không em?”. “Dạ, mệt muốn bở hơi tai luôn! Lúc đạp xuống gió xuôi cũng nhẹ, bận chạy về gió ngược muốn đứt hơi luôn. Cũng tại em, chúng nó muốn đi 2 người một xe, em “tham thì thâm” năn nỉ chở luôn 4 đứa”. Cậu chỉ tay về hướng đường Jefferson: “Đúng ra phải trả về chỗ ăn seafood to go (đồ ăn hải sản mua mang đi. BT) đằng kia kìa, nhưng chúng thấy em chắc cũng gần chết rồi nên tha cho ở đây. Chúng “bo” cho thêm 5 đồng, tụi Mỹ đen ít khi “bo” lắm, chúng cười chọc quê em đấy.

- Làm nghề này cực không?

- Em amateur thôi anh à! Kiếm thêm chút đỉnh mua mấy cái đồ nghề học tập. Thôi anh đi chơi vui vẻ nhé, em về đây, tới phiên thằng bạn...

- Chiếc nón lá đẹp nhỉ? Tôi nói vói theo.

- Nón bài thơ xứ Huế mình đó anh!

Người mình hay đội nón lá nhỉ? Có thể là một cách tiếp thị? Cũng có thể trong tận cùng tâm hồn người mình, thấy tự hào về những vật mà nó gắn bó thiết thân với kỷ niệm quê nhà. Đất nước mình không có nhiều những di tích to tát để lại cho đời sau. Chiến tranh triền miên, chế độ này chà qua chế độ kia xát lại, lòng hận thù, bom đạn đã tàn phá hết. Những công trình tưởng như to lớn, vững chắc thì bây giờ theo thời gian chỉ còn lại những đống đổ nát, lụn vụn. Vậy mà, những cái tưởng như tầm thường, mong manh, dễ vỡ, lại chất chứa sâu đậm tâm hồn Việt Nam và tồn tại nguyên vẹn, vĩnh cửu. Nó không thể lẫn vào đâu được, khi phải chung đụng với bốn bể những mênh mông vật chất, giữa thế giới văn minh bao la này. Chúng không nhiều, có thể là tà áo dài, chiếc áo bà ba, và nơi đây, giữa trời San Fran ở Bắc Mỹ này, tôi nhận diện ra nó là những chiếc nón lá mong manh. Bây giờ dù quê hương xa xôi khuất nẻo chân trời, nhìn trăm ngàn kiểu mũ, nón thời trang hoa hòe, lòe loẹt, sao tôi vẫn thấy bồi hồi xao xuyến khi thấy chiếc nón lá quê nhà. “Nón-bài-thơ-xứ-Huế-mình”, nghe quê hương ở đâu đây, không phải cách xa bên kia bờ Thái Bình Dương thăm thẳm mà rất gần, đâu như vừa trong tầm tay với!

Cậu trai trẻ đã đạp xe đi khuất rồi. Chàng ta có thể là một sinh viên, làm “bậy bạ” kiếm thêm chút tiền trang trải việc học. Bây giờ đi đâu trên khắp nước Mỹ cũng có thể gặp được người Việt mình, có chỗ nhiều chỗ ít nhưng có lẽ chỗ nào cũng có. Họ âm thầm, chịu khó, nhẫn nhục làm bất kỳ những công việc lương thiện nào đó để kiếm sống mà vươn lên. Người ta có tiềm lực, còn dân mình bước ra từ những cuộc chiến tranh đi lên bằng hai bàn tay trắng. Từ quê hương nghèo nàn, lạc hậu miễn cưỡng đến đất lạ xứ người khác biệt mọi thứ, mà đứng được trên đôi chân trần, thế cũng là nghị lực lắm rồi!

Tôi đọc đâu đó nghiên cứu của một trường đại học, trong những sắc dân Châu Á di dân đến Mỹ người Việt là nghèo nhất, trình độ học vấn hạn chế nhất, đúng sai như thế nào không biết, nhưng nghe thế cũng thấy tủi. Mới 2-3 chục năm qua đây, mà bây giờ ở nhiều thành phố trên nước Mỹ người Việt cũng có thể dễ dàng “tự cung tự cấp” mọi hoạt động dịch vụ, đời sống trong cộng đồng thì chắc cũng không phải là quá tệ! Nghĩ thế không biết để tự hào, tự mãn hay để tự an ủi.

Một người Việt nào đó ở Orange County thì phải (xin lỗi), anh nói đùa: Chỉ khi ra khỏi Mỹ tôi mới phải nói tiếng Anh”. Có thể anh đùa thật, nhưng chắc trong lòng cũng có một chút tự hào (nếu thật anh không tự hào thì cho phép tôi được tự hào) về sự lớn mạnh của cộng đồng Việt Nam ở nhiều thành phố trên quê hương thứ hai này. Bây giờ, nhiều nơi tại hải ngoại, người Việt có thể đáp ứng gần hết mọi nhu cầu đời sống vật chất, cũng như tinh thần của mình, mà không phụ thuộc nhiều vào những sắc dân khác, chỉ trong vòng có hơn một phần tư thế kỷ, thế cũng đáng tự hào chứ.

Đói bụng! Tôi đi tới chỗ bán seafood lề đường mua vài lát cá lăn bột chiên. Ăn để nhớ lại kỷ niệm, chẳng thấm vào đâu, bây giờ nó như không ngon và rẻ như mấy năm trước? Đi du lịch, tôi ít dám vào những nhà hàng sang trọng, bởi bản tính tiết kiệm từ nhỏ và cũng bởi sợ không đủ tiền.

“Quần chúng” không phải lúc nào cũng đúng, nhưng “quần chúng” thường ít sai! Đi chơi du lịch mà, cứ lang thang, đâu việc gì phải vội! Thấy hàng quán nào ồn ào, nhộn nhịp, người ăn, kẻ uống nhồm nhoàm, ồn ào rôm rả thì đích thực là nó đang có những món ngon, bổ và rẻ.

Ra khỏi quán, trời tối hẳn rồi. Phố phường đèn điện sáng giăng giăng. Du khách thưa thớt, họ đã về, đã đi ăn uống, hay đã chuyển địa điểm vui chơi từ ngoài trời vào những phòng trà, ca nhạc, khách sạn, dancing… Cầu Golden Gate bắc ngang qua Vịnh San Francisco rực rỡ. Bầu trời xanh đen, sao đêm lấp lánh, gió lạnh. Tôi ghé Parking lấy xe. Ngày mai trở lại với đời thường. Hẹn San Fran lần sau…

(Theo Vietbao 12.7.2013)
Chia sẻ qua Facebook Chia sẻ qua Twitter
Các tin khác
Bài được xem nhiều nhất